Bởi Nguyễn Trà My

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lương thực lớn nhất của Việt Nam – đang chịu rất nhiều ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là hạn hán và xâm nhập mặn. Mô hình canh tác lúa – tôm, hệ thống trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô trên cùng một diện tích đất, là một mô hình thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và đem lại năng suất cao hơn mô hình độc canh lúa.
Mô hình này xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1970 (Khanh 2026). Và dần trở nên phổ biến sau khi Nghị quyết 09/2000/NĐ-CP được ban hành năm 2000, cho phép chuyển đổi đất kém hiệu quả (đất sản xuất lúa và muối, đất trũng và đất ven biển) sang nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020, diện tích canh tác lúa – tôm tại Việt Nam đạt gần 211.900 ha, tập trung chủ yếu ở các tỉnh ĐBSCL là Kiên Giang (100.000 ha), Cà Mau (38.000 ha), Bạc Liêu (57.800 ha) và Sóc Trăng (9.700 ha) (Nhat Ho 2020).
Mô Hình Thích Ứng với Biến Đổi Khí Hậu
Mô hình lúa – tôm ở ĐBSCL bao gồm hai loại hình canh tác: luân canh giữa một vụ lúa và một vụ tôm và xen canh lúa và tôm (Phuong 2006). Trong mô hình luân canh, mỗi năm có một vụ lúa và một vụ tôm luân phiên nhau để tận dụng chu kỳ tự nhiên. Tôm được nuôi vào mùa khô (tháng 2 đến tháng 7) khi có nước lợ, chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp và có thể xen canh thêm cua và cá nước lợ. Đất sau đó được khử mặn trong khoảng 1-2 tháng trước khi bắt đầu trồng lúa vào tháng 9 đến tháng 10, khi độ mặn thấp. Trồng lúa giúp cải thiện hệ sinh thái đất và nước qua quá trình khoáng hóa và hấp thụ dần các chất hữu cơ còn sót lại từ vụ nuôi tôm trước, làm giảm ô nhiễm, nguy cơ mắc bệnh ở tôm và chi phí phân bón (Giang Nam 2022).
Trong mô hình xen canh, tôm được nuôi trong các ruộng lúa đã được cải tạo mương bao quanh bờ để thả tôm. Tôm giống được thả vảo mương vào tháng 7, sau khi thu hoạch lúa vào tháng 12 thì được cung cấp nước biển để ăn các phụ phẩm còn sót lại của ruộng lúa (Dang 2020). Chất thải từ nuôi tôm sau đó lại được dùng làm phân hữu cơ cho cây trồng, giúp giảm phát thải khí nhà kính và sử dụng hóa chất (Farrant 2021). Vì vậy, gạo được sản xuất theo mô hình lúa – tôm dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và sản xuất hữu cơ.
Nhờ những lợi ích trên, mô hình xen canh lúa – tôm được đánh giá là giải pháp thông minh nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu (Anh Vu 2025) và được Việt Nam xác định là một chiến lược trọng điểm để giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL. Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam cũng coi mô hình này là một biện pháp để giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa. Quyết định 3550/QĐ-BNN-TCTS do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành năm 2021 đặt mục tiêu mở rộng hệ thống canh tác lúa – tôm từ 190.000 ha năm 2022 lên 250.000 ha vào năm 2030 (Tran 2025).
Những Thách Thức Trong Nhân Rộng
ĐBSCL có nhiều lợi thế để nhân rộng mô hình canh tác lúa – tôm. Bên cạnh sự ủng hộ mạnh mẽ từ chính quyền trung ương và địa phương, Tran (2025) ghi nhận tất cả các bên liên quan đều có nhận thức tốt về tầm quan trọng và lợi ích của mô hình, một phần nhờ hệ thống truyền thông hiệu quả giúp các bên liên quan dễ dàng tiếp nhận thông tin.
Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức trong việc duy trì tính bền vững của mô hình. Một mặt, yếu tố ngoại lực lớn nhất là biến đổi khí hậu đang gây ra những đợt hạn hán nghiêm trọng, lũ lụt biến động, nhiệt độ cao và thời tiết thất thường hơn. Các tác nhân gây căng thẳng môi trường khác như lây nhiễm chéo từ nuôi trồng thủy sản thâm canh cũng khiến việc canh tác lúa – tôm trở nên khó khăn hơn (Dang 2020).
Mặt khác, cũng tồn tại những thách thức liên quan đến con người, bao gồm việc nông dân còn thiếu kiến thức về các kỹ thuật canh tác lúa – tôm mới có hiệu quả sản xuất cao hơn. Poelma (2021) cho biết rằng những vấn đề này đã được giải quyết phần nào thông qua những chương trình đào tạo chuyên sâu miễn phí do các Trung tâm Khuyến nông tổ chức, cũng như qua các cuộc trao đổi thân mật tại quán nước hoặc trong các chuyến thăm các nông trại khác để học hỏi phương pháp canh tác mới.
Tran (2025) thì cho rằng rào cản chính là một chuỗi giá trị yếu, thể hiện rõ nhất ở việc “sản xuất phân tán và quy mô nhỏ”. Vai trò mờ nhạt của các hợp tác xã và hội nông dân ở ĐBSCL và thiếu minh bạch trong chuỗi giá trị cũng được coi là “những trở ngại lớn”. Mối quan hệ giữa nhà sản xuất, chế biến và thương nhân trong mô hình lúa – tôm thường mong manh, và các cơ chế chia sẻ rủi ro hoặc đảm bảo giá không được xác định rõ ràng. Một khó khăn khác được nêu bật trong nghiên cứu là “các vấn đề mang tính hệ thống” trong huy động và quản lý vốn để mở rộng mô hình này. Trên thực tế, các cấu trúc tài chính hiện có nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của chuỗi giá trị lúa – tôm, với những khó khăn như chi phí giao dịch cao đối với các khoản vay và tiền tiết kiệm nhỏ và không thể vay do không đủ tài sản thế chấp.
Đồng thời, Anh Vu (2025) cho rằng mô hình lúa – tôm có những bất cập về cơ sở khoa học, vì con tôm và cây lúa có điều kiện sống khác nhau. “Cây lúa sống trong nước ngọt, đáy bùn giàu chất hữu cơ, mức nước thấp; còn tôm cần nước mặn – lợ, đáy cứng, sạch, mức nước sâu và hàm lượng O2 cao. Do vậy, nếu nuôi xen canh thì tôm và lúa đều sống trong điều kiện sinh thái bất bình thường”.
Ngoài ra, các hệ thống thủy lợi được cải tạo cho mô hình lúa – tôm cũng thường ít hiệu quả trong đồng thời giữ nước ngọt cho lúa và bổ sung nước mặn cho tôm (Tran 2025).
Bên cạnh những thách thức lớn về mặt vận hành đối với việc nhân rộng, mô hình canh tác lúa – tôm tích hợp còn đối mặt với một số khó khăn về mặt xã hội.
Những Khía Cạnh Xã Hội của Hệ Thống Canh Tác Lúa – Tôm
Nhiều nông dân cho biết mô hình canh tác lúa – tôm đã giúp họ tăng thu nhập do có thể tối ưu hóa việc sử dụng đất và thu hoạch cả hai sản phẩm. Tuy nhiên, Tran (2025) nhận thấy tác động xã hội của mô hình này khá “phức tạp”. Dù mang lại sinh kế ổn định cho người nông dân và từ đó cải thiện sức khỏe của các thành viên trong gia đình, mô hình canh tác lúa – tôm lại không giúp giảm gánh nặng cho lao động nữ hay dẫn đến phân chia công việc công bằng hơn.
Phân tích sâu hơn về khía cạnh giới của mô hình canh tác lúa – tôm, Grassi (2017) cho biết theo truyền thống, phụ nữ thường phụ trách những công việc nhẹ và tốn nhiều thời gian, trong khi nam giới đảm nhận những công việc nặng nhọc hơn. Tuy nhiên, khi ngày càng có nhiều nam giới di cư khỏi địa phương, công nghệ phát triển và nhu cầu về kinh tế của gia đình lớn hơn, phụ nữ hiện đã làm nhiều công việc từng hoàn toàn do nam giới đảm nhiệm, trong khi nam giới cũng bắt đầu chia sẻ một số công việc trước đây dành cho phụ nữ. Dẫu vậy, phụ nữ vẫn bị cho là chỉ làm những công việc “nhẹ nhàng” và bỏ ra ít công sức lao động hơn nam giới.
Cụ thể, khi phân tích các trường hợp điển hình ở hai xã Bình Đại và Thanh Phú thuộc tỉnh Bến Tre (nay là Vĩnh Long) ở ĐBSCL, Dang (2020) nhận thấy nam giới được trả trung bình 140.000 VND/ngày (6,04 USD) để vận chuyển lúa, nạo vét bùn và thu hoạch tôm, trong khi phụ nữ chỉ được trả trung bình 120.000 VND/ngày (5,18 USD) để làm cỏ, thu hoạch và cho tôm ăn. Hơn nữa, việc thiếu tiếp cận với các nguồn lực sản xuất như tín dụng, đào tạo và công nghệ cũng có thể khiến ý kiến của phụ nữ bị đánh giá thấp hoặc bỏ qua trong quá trình ra các quyết định quan trọng về sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình (Grassi 2017).
Kiến Nghị
Mặc dù còn nhiều thiếu sót, mô hình canh tác lúa – tôm vẫn là một “giải pháp tình thế” tốt (Anh Vu 2025) cần được nhân rộng, nhất là trong bối cảnh cơ sở hạ tầng thủy lợi ở ĐBSCL còn chưa hoàn thiện. Để làm được điều đó, cần ưu tiên giải quyết các thách thức chính mà mô hình lúa – tôm đang phải đối mặt.
Đối với thách thức về kiến thức của người nông dân, Poelma (2021) đề xuất điều chỉnh linh hoạt các kiến thức và kỹ năng sao cho phù hợp với nhu cầu riêng của từng nhóm nông dân để xóa bỏ khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn. Dang (2020) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bổ sung các kiến thức về phương pháp tiên tiến để kiểm soát khan hiếm nước và xâm nhập mặn, cũng như tăng cường hội nhập thị trường, năng suất và hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Ngoài ra, đẩy mạnh hợp tác và kết nối với khu vực ngoài nhà nước sẽ giúp mở rộng phạm vi và hiệu quả của các dịch vụ khuyến nông, tạo điều kiện cho việc phổ biến kiến thức toàn diện và áp dụng rộng rãi các kỹ thuật tiên tiến trong tất cả các bên liên quan (Tran 2024). Cần thiết lập và tiêu chuẩn hóa các hướng dẫn kỹ thuật và khung pháp lý cho mô hình canh tác lúa – tôm, bao gồm xác định các quy trình tối ưu trong chọn giống, mật độ thả giống và các đặc điểm sản xuất khác.
Để giải quyết những điểm yếu trong chuỗi giá trị, Tran (2025) khuyến nghị tăng cường vai trò của các hợp tác xã, hội nông dân và tổ chức xã hội; ưu tiên các chính sách củng cố liên kết chuỗi giá trị để thu hút đầu tư tư nhân; và khuyến khích chia sẻ lợi ích và tạo ra các chuỗi giá trị kiểu mẫu để áp dụng rộng rãi hơn. Hơn nữa, cần có các hệ thống hỗ trợ tài chính như cho vay và phí chứng nhận để khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với nông dân và thiết lập các mối liên hệ thị trường. Nghiên cứu cũng đề xuất đa dạng hóa mô hình sản xuất để nâng cao khả năng phục hồi và năng suất của mô hình lúa – tôm, ví dụ bằng cách kết hợp trồng rau trên mương với nuôi các loài thủy sản khác như cá và cua để cải thiện sinh kế của nông dân, tăng năng suất và hỗ trợ tính bền vững tổng thể của hệ thống.
Về lâu dài, cần đầu tư vào đồng bộ hóa hệ thống logistics vận tải và nâng cấp cơ sở hạ tầng thủy lợi để hỗ trợ mô hình lúa – tôm ở quy mô lớn và đảm bảo tính bền vững của tất cả các biện pháp canh tác.
Kết Luận
Mô hình canh tác lúa – tôm, luân canh trồng lúa và nuôi tôm trong mùa khô và mùa mưa, đồng thời tận dụng phần dư thừa của mỗi vụ mùa để sản xuất các sản phẩm hữu cơ, là một giải pháp khả thi nhằm đối phó với những thách thức ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu ở ĐBSCL.
Mô hình đang được ưu tiên nhân rộng tại các tỉnh ĐBSCL, nhưng những thách thức liên quan đến thời tiết ngày càng thất thường, kiến thức hạn chế của nông dân về kỹ thuật canh tác hiện đại, chuỗi giá trị yếu kém và hệ thống thủy lợi chưa phát triển đang cản trở quá trình nhân rộng và tính bền vững của mô hình lúa – tôm. Thêm vào đó, mô hình này còn cần cải thiện nhiều về khía cạnh bình đẳng giới.
Vì vậy, cần có các giải pháp và chính sách toàn diện và đồng bộ để loại bỏ những rào cản này, từ đó nâng cao hiệu quả và tính bền vững của mô hình canh tác lúa – tôm.
