Bởi Tran Duc Thinh

Mặt trời chưa kịp mọc, Sáu đã ra kiểm tra ao tôm của gia đình ở tỉnh Trà Vinh. Chị quan sát màu nước, đo độ mặn bằng thiết bị cầm tay, rồi đưa ra quyết định mà nó hoàn toàn trái với ý của chồng chị: không thả giống với mật độ mà hai người đã cãi nhau suốt đêm hôm trước.
“Chồng tôi muốn chuyển sang nuôi thâm canh công nghiệp ngay lập tức. Vì chuyện này mà hai vợ chồng cãi nhau suốt thôi,” chị kể lại với một nhà nghiên cứu (Anh Vu 2012).
Sự thận trọng của chị, được tôi luyện qua nhiều năm quan sát ao mỗi ngày, đã chứng tỏ là đúng đắn: mùa đó, các hộ nuôi thâm canh trong vùng bị dịch bệnh tàn phá, trong khi ao nhà chị vẫn cho thu hoạch khiêm tốn nhưng đều đặn.
Thực ra, câu chuyện của Sáu không hề hiếm. Nó phản chiếu một thực tế rộng lớn nhưng gần như vô hình: tri thức, sức lao động và năng lực phân định của hàng trăm nghìn người phụ nữ như chị đang là nền tảng cho hoạt động hàng ngày của nghề nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ khắp Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vậy mà một nghịch lý đau lòng vẫn tồn tại: các văn bản chính sách híếm khi nhắc đến họ, chương trình khuyến ngư hầu như không mời họ tham dự, và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở hầu hết các xã hiếm khi ghi tên họ.
Đặt trong bối cảnh đó, bài viết này hướng tới một sự thừa nhận trung thực hơn về thực tế: vai trò của phụ nữ không đơn thuần là vấn đề công bằng xã hội. Khi Đồng Bằng Sông Cửu Long đối mặt với tình trạng sụt lún, xâm nhập mặn và nắng nóng ngày càng gia tăng với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới, thì kiến thức sinh thái học mà những người phụ nữ này nắm giữ chính là một trong những tài sản thích ứng bị đánh giá thấp nhất và do đó, ít được khai thác nhất mà vùng đất này đang sở hữu nhưng lãng phí nó.
Đồng bằng trong gọng kìm
Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam, đóng góp khoảng 70% sản lượng cả nước, với hơn 3,1 triệu tấn mỗi năm. Các mô hình sản xuất đặc trưng của vùng này gồm có: tôm kết hợp rừng ngập mặn ở Cà Mau và Bạc Liêu, luân canh lúa-tôm ở Kiên Giang và Bến Tre, và ao nuôi cá tra dọc theo sông Tiền và sông Hậu. Các hệ thống này đã nuôi sống hàng triệu gia đình qua nhiều thế hệ. Trong thực tế, đây chính là những giải pháp dựa vào thiên nhiên theo đúng nghĩa mộc mạc nhất của khái niệm này: chúng dựa vào nhịp triều, tán rừng ngập mặn, chu kỳ lũ theo mùa và đa dạng sinh học, thay vì hóa chất hay cơ giới hóa (Nguyen 2020).
Thế nhưng hôm nay, đồng bằng trù phú ấy đang bị kẹp chặt trong thế gọng kìm. Một phía là biến đổi khí hậu: với mức tăng nhiệt độ trung bình khoảng 0,5°C trong nửa thế kỷ qua và dự báo sẽ tăng thêm 1,5°C vào năm 2050 (Do 2022), hệ quả trực tiếp là nước mặn xâm nhập sâu 40-60 km vào nội địa trong mùa khô và mưa ngày càng thất thường, cực đoan hơn. Phía kia là sụt lún đất: nhiều thập kỷ khai thác nước ngầm quá mức đã khiến nhiều khu vực ở Đồng Bằng Sông Cửu Long lún xuống 1-3 cm mỗi năm, nhanh hơn nhiều so với tốc độ dâng của mực nước biển.
Đáng lo ngại hơn nữa, Việt Nam đã mất khoảng một nửa diện tích rừng ngập mặn trong ba thập kỷ qua, chủ yếu do chuyển đổi sang ao nuôi tôm và các đầm nuôi thủy sản (Tinh 2022); một sự đánh đổi đáng tiếc sâu sắc, bởi rừng ngập mặn chính là những con đê tự nhiên bảo vệ những ao nuôi còn lại. Hệ quả là các chu kỳ canh tác quen thuộc: lũ sẽ về khi nào? độ mặn đỉnh điểm vào lúc nào? nước ao sẽ ấm thêm bao nhiêu độ? đã thay đổi và ngày càng khó dự đoán. Chính vào thời điểm này, vai trò của những người nắm giữ kiến thức kinh nghiệm thông qua thời gian dài tích luỹ: quan sát trực tiếp, hàng ngày, chưa bao giờ trở nên quan trọng đến vậy.
Phụ nữ thực sự làm gì?
Hỏi bất kỳ người dân nào ở một làng nuôi tôm ở Cà Mau hay Bạc Liêu rằng ai là người ra ao mỗi buổi sáng, câu trả lời hầu như luôn là một người phụ nữ. Theo nghiên cứu của Duy và các cộng sự (2022), trong các hộ nuôi tôm và cá tra quy mô gia đình, phụ nữ thường đảm nhiệm phần lớn các công việc quản lý hàng ngày: theo dõi màu sắc và mùi của nước, giám sát sức khỏe đàn thủy sản, quản lý thức ăn, ghi chép sổ sách, phối hợp với các nhà cung cấp đầu vào, và phân loại, sơ chế sản phẩm trước khi bán. Cụ thể hơn, nghiên cứu về các hộ nuôi cá tra ở Cần Thơ cho thấy dù đàn ông được chính thức công nhận là người ra quyết định, chính phụ nữ mới là người thực hiện phần lớn công việc quản lý hàng ngày (Ninh 2022).
Hơn thế nữa, các hộ phụ nữ nuôi tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thường thận trọng hơn trong các quyết định sản xuất. Điều này thể hiện rõ ràng qua sở thích của họ đối với các mô hình quảng canh, rúi ro thấp với lợi nhuận ổn định, thay vì các hệ thống thâm canh hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng dễ sụp đổ (Anh Vu 2012). Đây không đơn thuần là sự rụt rè. Đó là sự đánh giá tỉnh táo về mức độ dễ bị tổn thương của hộ gia đình. Phụ nữ là những người thường phải gánh chịu trách nhiệm về an ninh lương thực của gia đình và trả nợ, nhưng lại có rất ít tiếng nói trong các quyết định lớn. Họ hiểu rằng một quyết định vội vã duy nhất có thể cuốn trôi đi nguồn sinh kế duy nhất của cả nhà.
Ở một tầng sâu hơn nữa, phụ nữ tích lũy qua nhiều năm một hệ thống kiến thức sinh thái học phi chính thức tinh vi: đọc các tín hiệu môi trường như màu sắc và mùi nước, hành vi của cá tự nhiên ven bờ ao, sự xuất hiện của các sinh vật chỉ thị; hiểu mối quan hệ giữa độ mặn, nhiệt độ và trạng thái căng thẳng của tôm; điều chỉnh lịch thä giống và thu hoạch theo chu kỳ mùa và diễn biến thời tiết. Sự quan sát sinh thái cẩn thận này, thực ra, chính là bản chất cốt lõi của nuôi trồng thủy sản dựa vào thiên nhiên: làm việc thuận với các chu kỳ tự nhiên, quản lý rủi ro thông qua đa dạng sinh thái, và xây dựng khả năng phùc hồi thay vì tối đa hóa năng suất ngắn hạn.
Tại sao những bàn tay ấy vẫn vô hình?
Bất chấp những đóng góp rất thực tế này, sự hiện diện của phụ nữ vẫn tiếp tục bị che khuất bởi nhiều lớp rào cản đa tầng: có những rào cản nhìn thấy được, có những rào cản không.
Rào cản căn bản nhất nằm ở hệ thống pháp lý. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp ở hầu hết các xã Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn được đăng ký theo tên người chồng; đây là tập tục ăn sâu bắt rễ từ lâu trong cộng đồng, dù luật pháp đã cho phép đăng ký đồng sở hữu từ lâu. Không có tên mình trên giấy chứng nhận, một người phụ nữ không thể vay ngân hàng độc lập, không thể trở thành thành viên chính thức của hợp tác xã, và không thể tiếp cận các dịch vụ khuyến ngư đòi hỏi bằng chứng quyền sở hữu đất (Nguyen 2020). Hệ quả lâu dài là điều không thể chối cãi: khi người chồng qua đời, ly hôn hoặc đi làm xa, người phụ nữ đang canh tác trên mảnh đất đó có thể rơi vào tình huống hoàn toàn không có tư cách pháp lý nào cả.
Cộng hưởng với rào cản pháp lý này là sự loại trừ có hệ thống khỏi nguồn kiến thức kễ thuật chính thống. Các chương trình tập huấn khuyến ngư thường được tổ chức vào những lúc phụ nữ bận rộn với công việc nội trợ, tại những địa điểm xa nhà, và được thiết kế dựa trên giả định ngầm rằng đàn ông mới là “người vận hành trang trại” cần được đào tạo (Duy 2022). Hệ quả thực tế là đáng kể: phụ nữ ít có khả năng nhận được cánh báo dịch bệnh sớm, ít có cơ hội tìm hiểu về các giống kháng stress cải tiến, và ít khi hiểu được các yêu cầu chứng nhận có thể nâng giá sản phẩm của họ. Kết quả là, trong một vòng lẩn quẩn tự duy trì, những khoảng trống kiến thức do bị loại trừ gây ra lại được viện dẫn làm lí do để tiếp tục loại trừ.
Hệ quả tất yếu của hai rào cản này là sự vắng mặt của phụ nữ trong các không gian ra quyết định. Những nơi đưa ra các lựa chọn có hậu quả thực sự như các ban quản lý thôn xã, hội đồng hợp tác xã, và các diễn đàn quy hoạch nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh, vẫn là địa hạt của đàn ông. Hơn thế nữa, phụ nữ dân tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ Khmer ở Trà Vinh và Sóc Trăng, còn phải đối mặt với rào cản kép về ngôn ngữ và phân biệt đối xử (Anh Vu 2012). Và điều đáng lo ngại nhất trong số đó: những phụ nữ lớn tuổi, chính họ là những người nắm giữ kho tàng kiến thức sinh thái địa phương sâu sắc nhất thì lại gần như hoàn toàn vắng mặt trong các quá trình tham vấn chính thức.
Biến đổi khí hậu: khi vai trò của phụ nữ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Nghịch lý lớn nhất trong thách thức biến đổi khí hậu mà Đồng Bằng Sông Cửu Long đang đối mặt nằm ở điều này: khi sinh kế nuôi trồng thủy sản khắp vùng đứng trước mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng, thì phụ nữ – những người nắm giữ hệ thống kiến thức thực tiễn địa phương sâu sắc và liên tục nhất, lại không nhận được sự công nhận tương xứng với vai trò thực tế của họ. Nói cách khác, thay vì được đặt vào trung tâm của các chiến lược ứng phó và thích ứng, họ bị đẩy vào vùng dễ tổn thương, không có tiếng nói và tiếp cận ít hơn với các nguồn lực thiết yếu nhất.
Trên thực tế, kinh nghiệm thực địa mà phụ nữ tích lũy qua nhiều năm làm nghề nuôi trồng thủy sản mang lại những lợi thế thích ứng không thể thay thế trước các cú sốc khí hậu ngày càng khó đoán. Ví dụ rõ ràng nhất là: khi xâm nhập mặn làm đảo lộn lịch canh tác theo mùa truyền thống, hoặc khi tôm chết hàng loạt mà không rõ nguyên nhân, năng lực quan sát và phân định được mài giũa qua lao động chăm sóc hàng ngày sẽ giúp phụ nữ nhận diện rủi ro sớm và điều chỉnh thực hành sản xuất kịp thời (Nguyen 2020). Hơn nữa, sở thích của nhiều hộ phụ nữ nuôi tôm ở Cà Mau và Trà Vinh đối với các mô hình quảng canh, tích hợp rừng ngập mặn, ít hóa chất phù hợp chặt chẽ với định hướng mà các chương trình phục hồi rừng ngập mặn và các đề án chứng nhận tôm sinh thái đang tích cực thực hiện. Điều này gián tiếp khẳng định rằng vai trò của họ không chỉ mang tính thích ứng mà còn nhất quán với các mục tiêu phát triển bền vững dài hạn.
Thế nhưng, một cách nghịch lý, những năng lực thích ứng này hiếm khi được chuyển hóa thành quyền tiếp cận nguồn lực hay tiếng nói trong việc ra quyết định, đẩy phụ nữ vào thế bất lợi về cơ cấu khi khủng hoảng ập đến. Nghiên cứu của Nguyễn và các cộng sự (2020) về các hệ thống tôm-rừng ngập mặn ở Bến Tre cho thấy: dù nông dân có năng lực duy trì mô hình này, họ vẫn thiếu động lực thực hiện vì không thể tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ cần thiết. Với phụ nữ, những rào cản này còn cao hơn: không có quyền sử dụng đất đứng tên mình, họ không thể vay ngân hàng khi ao bị thiệt hại; tiếp cận hạn chế với thông tin cảnh báo sớm đồng nghĩa với không thể ứng phó kịp thời; và gần như hoàn toàn vắng mặt trong các cuộc họp quy hoạch đồng nghĩa với việc họ ít được xem xét trong các chương trình phúc hồi. Các hộ do phụ nữ làm chủ vừa là đối tượng chịu thiệt hại nặng nhất từ thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu, vừa là nhóm được hỗ trợ ít nhất. Chính điều này đã vén màn mâu thuẫn giữa vai trò thực chất của phụ nữ và sự thiếu quyền lực của họ trong ứng phó biến đổi khí hậu.
Làm cho những bàn tay này trở nên hữu hình
Bằng chứng hiện nay cho thấy sự thay đổi không phải là hoàn toàn ngoài tầm với. Một số dự án gần đây hỗ trợ chứng nhận tôm-rừng ngập mặn bền vững ở Cà Mau và Trà Vinh đã đưa các nội dung về bình đẳng giới và trao quyền tài chính cho phụ nữ vào diện yêu cầu bắt buộc (Tinh 2022). Đây là hướng đi đúng đắn và cần được nhân rộng cũng như thể chế hóa. Có bốn lĩnh vực ưu tiên hành động đáng được xem xét.
Cải cách pháp lý về quyền sử dụng đất: Đẩy nhanh việc đăng ký chung giấy chứng nhận sử dụng đất nuôi trồng thủy sản; đào tạo cán bộ quản lý đất đai về thực tiễn bình đẳng giới; thiết lập dịch vụ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn, đặc biệt là góa phụ và các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ. Các chương trình chứng nhận tôm sinh thái cần yêu cầu phụ nữ trong hộ gia đình được chính thức công nhận là đồng chủ sở hữu chứng nhận (Do 2022).
Thiết kế lại các chương trình tập huấn khuyến ngư: Tổ chức các buổi tập huấn tại địa phương và vào những giờ giấc linh hoạt; triển khai các cán bộ khuyến nông nữ và phương pháp học tập đồng đẳng; xác định rõ ràng các thành viên nữ trong hộ gia đình là đối tượng chính của đào tạo kỹ thuật về quản lý chất lượng nước, phòng chống dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu (Duy 2022; Ninh 2022).
Tích hợp kiến thức của phụ nữ vào quy hoạch thích ứng khí hậu: Thu thập có hệ thống kiến thức sinh thái địa phương của phụ nữ và đưa vào nguồn dữ liệu chính thức trong các kế hoạch thích ứng nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh và xã. Lịch mùa vụ phân tách theo giới, các cuộc khảo sát thực địa có sự tham gia của phụ nữ nông dân, và các buổi thảo luận nhóm tập trung với phụ nữ cần là các thành phần tiêu chuẩn trong quá trình quy hoạch (Nguyen 2020).
Mở rộng tiếp cận tài chính và đưa phụ nữ vào quán trị: Phát triển các sản phẩm tín dụng vi mô phù hợp với phụ nữ nuôi trồng thủy sản; phân phối bảo hiểm rủi ro khí hậu thông qua mạng lưới Hội Phụ nữ Việt Nam; đặt ra các mục tiêu về thành viên và lãnh đạo có ý nghĩa, không chỉ mang tính hình thức, cho phụ nữ trong hợp tác xã, đảm bảo tiếng nói thực sự của phụ nữ trong các quá trình ra quyết định (Anh Vu 2012).
Song song với bốn lĩnh vực này, đầu tư vào nghiên cứu cũng có tầm quan trọng tương đương. Trước hết, cần thu thập dữ liệu phân tách theo giới trong các cuộc điều tra nuôi trồng thủy sản, phân tích chuỗi giá trị và đánh giá tác động khí hậu. Hơn nữa, việc ghi chép và thẩm định kiến thức sinh thái của phụ nữ phải được xem là một hệ thống thực hành nghịêm túc, có khả năng chuyển giao chứ không phải chỉ là giai thoại dân gian. Đây là nền tảng thực chứng để xây dựng các chính sách và chương trình khuyến ngư được tốt hơn (Ninh 2022).
Dòng nước không đợi chờ
Qua vô số chu kỳ lũ và cạn của nước sông Cửu Long, các hệ thống nuôi trồng thủy sản dựa vào thiên nhiên của Đồng Bằng đã tồn tại qua nhiều kỳ lũ lụt, hạn hán và biến động thị trường, phần không nhỏ là nhờ vào kiến thức sinh thái tích lũy của những người chăm sóc các hệ thống ấy, không ai khác chính những đôi bàn tay của người phụ nữ đã níu giữ kho tàng ấy (Anh Vu 2012; Nguyen 2020).
Nhìn từ góc độ đó, khó mà chấp nhận được rằng, trong khi Đồng Bằng Sông Cửu Long đang đối mặt với một tương lai khí hậu có khả năng đẩy mọi nguồn lực thích ứng sẵn có đến giới hạn, các quyết định dù có chủ định hay không vẫn đang để cho một nửa kho chuyên môn đó bị lãng phí như thứ không được công nhận, bị loại khỏi quản trị. Đây đơn giản là một sự lựa chọn. Nhưng những hậu quả có thể theo sau sẽ cực kỳ khó lường: đối với các hộ gia đình riêng lẻ, đối với toàn bộ ngành nuôi trồng thủy sản mà hàng triệu người phụ thuộc vào, và trên hết là đối với khả năng phục hồi của chính hệ sinh thái, rất có thể sẽ là những hậu quả thảm khốc.
Vì lý do đó, công nhận đúng đắn vai trò của phụ nữ là bước đầu tiên, và đây là bước không nên bị trì hoãn them nữa. Sáu ra ao trước lúc bình minh và chị biết ngay phải làm gì. Câu hỏi đặt ra là: liệu các chính sách, chương trình và tổ chức đang định hình tương lai của đồng bằng này có, sau cùng, lắng nghe chị hay không mà thôi.
Và hãy nhớ điều này: dòng nước mà chị hiểu sâu đến vậy sẽ không đợi câu trả lời cho câu hỏi đó.
